Phân Tích Bài Thơ Đồng Chí Lớp 9

     

Bài thơ Đồng chí là một trong số những tác phẩm hay và đặc sắc trong những tác phẩm ôn thi vào lớp 10 môn Văn. Nhằm mục đích giúp các bạn hiểu rõ hơn về nội dung và ý nghĩa tác phẩm, trong bài viết này, cùng hoanganhmotel.com phân tích chi tiết tác phẩm Đồng chí của tác giả Chính Hữu.

Bạn đang xem: Phân tích bài thơ đồng chí lớp 9

I. Thông tin về tác giả – tác phẩm

1. Tác giả: Chính Hữu

– Tên thật: Trần Đình Đắc

– Sinh năm 1926 mất năm 2007

– Quê quán: huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh

– Ông là một trong số các nhà thơ tiêu biểu trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp

– Ông bắt đầu sự nghiệp sáng tác từ năm 1947 với hai mảng đề tài sở trường là người lính và chiến tranh 

Tiểu sử và sự nghiệp sáng tác:

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945: Chính Hữu từng theo học tú tài ở Hà Nội 

Năm 1946, Chính Hữu gia nhập Trung đoàn Thủ Đô, tham gia chiến đấu chống Pháp tại Hà Nội

Năm 1954, ông được tham gia bồi dưỡng chính trị, trở thành chính trị viên Đại hội 

Năm 1947, Chính Hữu bắt đầu sáng tác thơ, lấy chất liệu chính là hình ảnh người lính và chiến tranh. Cũng trong năm 1947, ông cho ra đời tác phẩm đầu tay là bài thơ “Ngày về”. Bài thơ được xem là một dấu mốc quan trọng, ghi dấu ấn về lần đầu tiên Chính Hữu gia nhập thơ ca cách mạng.

Sau bài thơ “Ngày về”, khi trở thành một người lính thực thụ, Chính Hữu chủ yếu viết những vần thơ gắn liền với cuộc sống nơi chiến trường như: Giá từng thước đất, Ngọn đèn đứng gác, Thư nhà, Đồng chí,..

Sau chiến tranh, thơ Chính Hữu đầy ắp hoài niệm, nỗi nhớ và sự chiêm nghiệm thâm trầm về cuộc đời. Những bài thơ tiêu biểu trong thời kỳ này có thể kể đến như: Những ngày niên thiếu, Lá rụng về cội, Tiếng ngân… 

Trong làng thơ hiện đại Việt Nam, Chính Hữu là một tấm gương sáng mà rất nhiều tác giả muốn noi theo. Bởi lẽ, thơ Chính Hữu tuy ít, nhưng thời kỳ nào ông cũng có những bài thơ hay, mang đậm hơi thở thời đại. Sự nghiệp sáng tác của Chính Hữu chí gói gọn trong 3 tập thơ với khoảng 50 bài. Mặc dù vậy, những tác phẩm của ông đều mang đậm dấu ấn đương thời, giúp ông ghi danh vào thi đàn Việt Nam như một gương mặt tiêu biểu nhất của thơ ca kháng chiến.

Phong cách sáng tác và cảm hứng nghệ thuật:

– Xuất thân từ một người lính, sắc xanh áo lính đã gắn bó với Chính Hữu theo suốt các tác phẩm thơ của ông. Chính vì thế, khi viết về người lính, ông luôn đặt mình là người trong cuộc, hòa mình vào tâm hồn người lính để nói lên cảm nhận của họ 

– Thơ Chính Hữu được nhận xét là vừa hàm súc, vừa trí tuệ. Để nói về thơ mình, Chính Hữu từng tâm sự rằng: “Thơ phải ngắn ở câu chữ, nhưng phải dài ở sự ngân vang”

– Ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh; giọng điệu linh hoạt: khi thiết tha, trầm hùng; lúc sâu lắng, cô động

– Phong cách thơ độc đáo: ít lời để gợi ra nhiều ý, ngòi bút biết chọn lọc, cô đọng trong từng chi tiết, hình ảnh; câu thơ vừa giàu tính khái quát mà vẫn chắc gọn, ẩn chứa bên trong một tâm hồn thiết tha, da diết

2. Tác phẩm Đồng chí:

a. Ý nghĩa nhan đề Đồng chí

Đồng chí là đại từ xưng hô có nguồn gốc Hán Việt, thường sử dụng trong giao tiếp giữa những người trong cùng một đội ngũ, có cùng chung lý tưởng, chí hướng… Đây cũng là cách xưng hô phổ biến của những người lính và bộ đội ta từ sau Cách mạng cho đến tận ngày nay. 

Chính Hữu lấy nhan đề là “Đồng chí” không chỉ có ý nghĩa viết về tình cảm những con người cùng chung ý chí chiến đấu, mà sâu sắc hơn, ông muốn nói về tình đồng đội, về những con người đồng cam cộng khổ, cùng nhau vượt qua khó khăn để chiến đấu vì Tổ quốc. Đây cũng là lời khẳng định sức mạnh và vẻ đẹp tinh thần của người lính Cụ Hồ, luôn đặt tình yêu Tổ quốc lên trên đầu, sẵn sàng hi sinh sự tự do cá nhân để đổi lấy độc lập tự do cho dân tộc. 

b. Bố cục nội dung gồm 3 phần

– Phần một (7 câu thơ đầu): Cơ sở hình thành tình đồng chí, đồng đội giữa những người lính 

– Phần hai (10 câu thơ tiếp theo): Những biểu hiện cao đẹp của tình đồng chí, đồng đội

– Phần ba (3 câu thơ cuối): Hình ảnh biểu tượng cho thấy sức mạnh và vẻ đẹp của tình đồng chí, đồng đội 

Ẵm trọn kiến thức ôn thi vào 10 đạt 9+ với bộ sách

*

II. Hoàn cảnh sáng tác bài thơ Đồng chí

– Xuất xứ: Bài thơ “Đồng chí” được in trong tập thơ “Đầu súng trăng treo”, xuất bản năm 1966

– Bài thơ được sáng tác vào mùa xuân năm 1948, sau khi Chính Hữu tham gia chiến dịch Việt Bắc Thu – Đông năm 1947. Bài thơ là những trải nghiệm của tác giả về thực tế cuộc sống của bộ đội ta trong những ngày đầu kháng chiến đầy khó khăn, thử thách.

– Thời điểm sáng tác bài thơ “Đồng chí”: khi đó, Chính Hữu mới vừa tròn 20 tuổi; đảm nhiệm vị trí chính trị viên đại đội thuộc Trung đoàn Thủ Đô. Tác phẩm “Đồng chí” được ra đời khi đại đội của ông được biệt phái đi truy kích địch trên vùng Việt Bắc (hay còn biết đến là chiến dịch Việt Bắc – Thu Đông năm 1947)

Những người lính tham gia chiến dịch có xuất thân là nông dân, thợ thuyền, trí thức đều tự nguyện gia nhập các đội dân quân, du kích hoặc các lực lượng vũ trang quân đội nhân dân để chiến đấu bảo vệ độc lập của dân tộc. Tuy không phải lính tinh nhuệ nhưng họ là lực lượng chiến đấu vô cùng quan trọng, luôn sẵn sàng hy sinh, chịu đựng, vượt qua mọi gian khổ để chiến thắng kẻ thù.

Bên cạnh đó, hoạt động của bộ đội phải hết sức tuyệt mật kín đáo, vì tính đặc biệt của nhiệm vụ họ đang đảm nhiệm. Khi cuộc sống trở nên càng ác liệt, càng gian khổ thì những người lính lại càng quyết tâm, tinh thần đồng đội càng thêm thắm thiết và bền chặt bấy nhiêu

Cuộc sống người lính lúc ấy hiện lên trong mắt Chính Hữu thật gian khổ. Quân đội ta phải kháng chiến chống Pháp trong đơn độc mà không có sự giúp đỡ hay hỗ trợ từ quốc tế. Trên chiến trường, bộ đội ta buộc phải tự lực cánh sinh, nhân dân thì vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Vì vậy, các nhu cầu về lương thực, trang phục, nơi trú ẩn hay vũ khí súng đạn của bộ đội đều trong tình trạng vô cùng khó khăn và thiếu thốn. Thậm chí quân ta còn phải tự sản xuất, chế tạo nhiều loại vũ khí, tuy thô sơ nhưng giúp họ luôn trong tâm thế chủ động, sẵn sàng chiến đấu với giặc.

Trong chiến dịch này, theo lời Chính Hữu kể lại: “không có tình bạn thì không tồn tại được”. Sau chiến dịch phục kích năm ấy, ông đã đổ bệnh, đơn vị phải tiếp tục hành quân, nhưng thay vì để ông lại một mình, họ đã cử một anh lính ở lại trông nom, chăm sóc ông. Chính nhờ một phần sự tận tình của anh lính và tình cảm của đồng đội mà sau trận ốm đó, Chính Hữu đã sáng tác bài thơ “Đồng chí” chỉ trong một hai đêm. Hình ảnh “anh bạn” trong bài thơ thực chất không phải là nhân vật mà là một gợi ý, một nguyên mẫu về người đồng đội tham gia kháng chiến cùng ông.

Trong khoảng thời gian bị ốm trong đơn vị, Chính Hữu chỉ thấy xung quanh mình 3 hình ảnh là: súng, bạn và trăng. Điều này lý giải cho việc cả bài thơ người đọc sẽ chỉ thấy 3 hình tượng này được tô đậm và quấn quýt lấy nhau. Bài thơ “Đồng chí” tuy sáng tác giữa chiến dịch nhưng không miêu tả diễn biến trận đánh hay kể lể về những gian khổ. Thay vào đó, bài thơ chủ yếu tôn vinh tình cảm, tình người của những người lính có cùng nỗi suy tư, cùng lý tưởng sống, cùng một tiêu để hướng đến.

*

III. Phân tích bài thơ Đồng chí

1. Phân tích 7 câu thơ đầu bài thơ Đồng Chí: Cơ sở hình thành tình đồng chí, đồng đội giữa những người lính 

a. Tình đồng chí bắt nguồn hoàn cảnh xuất thân tương đồng giữa những người lính

Vẻ đẹp mộc mạc của tình đồng chí, đồng đội được thể hiện rõ nét qua lời tâm sự, giới thiệu về quê hương trong hai câu thơ đầu:

“Quê hương anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày nên sỏi đá’’

– Hai câu thơ cho thấy, những người lính tuy cầm súng ra trận nhưng thực chất họ chỉ là những người nông dân lao động nơi quê hương. Một nơi thì “nước mặn đồng chua”, một nơi thì “đất cày lên sỏi đá”. Từ những miền quê khác nhau, họ đã tìm thấy điểm chung để đến với nhau trong một mối quan hệ thật mới mẻ.

– Sử dụng đại từ nhân xưng “anh” và “tôi” tác giả đã gợi lên không khí trò chuyện gần gũi, như lời tâm tình, thủ thỉ của hai người bạn thân thiết.

Sử dụng thủ pháp đối được trong hai câu thơ đầu, tác giả đã gợi lên sự tương đồng trong xuất thân hay quê hương của hai người lính. 

– Tác giả mượn thành ngữ “nước mặn đồng chua” để nhắc đến những vùng đồng chiêm, nước trũng, vùng ngập mặn ven biển, khó sống và làm ăn. Ở nơi đó, cái đói, cái nghèo như manh nha từ trong nước, người nông dân có cố gắng đến mấy cũng không thoát nổi sự cơ cực, thiên tai.

– Sử dụng hình ảnh “đất cày lên sỏi đá” để miêu tả những vùng trung du, miền núi, nơi đất đá bị ong hóa, bạc màu, khó làm ăn canh tác. Ở nơi đây, cái đói, cái nghèo như rễ mọc từ trong lòng đất, người nông dân đối diện với những khó khăn như một lẽ đương nhiên.

=> “Quê hương anh” và “làng tôi”, người miền xuôi và kẻ miền ngược, tuy có khác nhau về địa giới nhưng đều có điểm chung là cái nghèo, cái khổ. Chiến tranh đã đưa hai người nông dân này thành chiến sĩ cùng chiến tuyến, sự đồng cảm giai cấp đã kết nối họ trở thành đôi bạn thân thiết, trở thành những người đồng chí, đồng đội với nhau.

b. Tình đồng chí hình thành từ nhiệm vụ chung, lý tưởng chung và lòng yêu nước nồng nàn

Trước khi nhập ngũ, những người lính đều là những người xa lạ, thuộc nhiều vùng miền khác nhau:

“Anh với tôi đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau

Súng bên súng, đầu sát bên đầu”

– Những con người chưa từng quen biết, đến từ mọi phương trời xa lạ, nhờ chiến tranh đã đưa họ thành chiến sĩ, gặp nhau ở một điểm chung. Điểm chung về xuất thân, chung một lòng yêu nước và cùng chung lý tưởng Cách mạng.

Hình ảnh thơ “súng bên súng, đầu sát bên đầu” diễn tả sự gắn bó, kề vai sát cánh của những người lính trên khắp những ngả đường hành quân và chiến đấu:

– “Súng bên súng” là cách nói giàu hình tượng để diễn tả sự kề vai sát cánh của những người lính cùng chung lý tưởng và nhiệm vụ chiến đấu. Họ ra đi không chỉ với mục tiêu giải phóng cho quê hương, đất nước, mà còn là cơ hội giải phóng cho chính cuộc sống khó khăn của họ nơi quê nhà

 – Cách nói hoán dụ “Đầu sát bên đầu” được sử dụng với ý nghĩa tượng trưng cho ý chí, quyết tâm chiến đấu của những người lính trong cuộc kháng chiến lâu dài của dân tộc.

– Sử dụng điệp từ “Súng, bên, đầu”, tác giả đã nhấn mạnh sự gắn kết, sự tương đồng trong lý tưởng, nhiệm vụ của những người lính. Ngoài ra còn tăng thêm sức mạnh cho câu thơ, khiến câu thơ trở nên mạnh mẽ, chắc khỏe, tràn đầy nhiệt huyết và quyết tâm.

Xem thêm: 5 Bài Mẫu Lập Dàn Ý Tả Một Đêm Trăng Đẹp Ở Quê Em Lớp 6, Tả Một Đêm Trăng Đẹp (Dàn Ý + 22 Mẫu)

– Nếu như ở hai câu thơ đầu, đại từ xưng hô “anh” – “tôi” nằm ở thủ pháp đối như một kiểu xưng danh khi mới gặp gỡ, thì ở 4 câu thơ tiếp theo “anh” với “tôi” trong cùng một dòng thơ đã bộc lộ tình cảm gần gũi. Có lẽ, từ những người xa lạ họ đã gặp được nhau và trở nên gắn kết, hướng tới cùng một mục tiêu.

=> Chính lý tưởng và mục đích chiến đấu là cầu nối cũng như cơ sở để họ kết nối với nhau, trở thành đồng chí, đồng đội của nhau trên chiến trường khốc liệt.

*
Hình ảnh những người đồng chí sát cánh bên nhau cùng chung lý tưởng và lòng yêu nước nồng nànc. Tình đồng chí hình thành từ việc trải qua khó khăn, thiếu thốn cùng nhau

Tác giả đã miêu tả rõ nét tình cảm của những người lính bằng một hình ảnh thật cụ thể, giản dị mà giàu sức gợi qua câu thơ:

“Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ’’

– Hình ảnh thơ “Đêm rét chung chăn” có thể hiểu là cùng nhau vượt qua cái khắc nghiệt, gian khổ của cuộc đời người lính. Họ cùng chung hơi ấm để vượt qua giá lạnh nơi núi rừng Việt Bắc. Một hình ảnh thơ vừa mang nét hiện thực, miêu tả sự khắc nghiệt của điều kiện sống, vừa tôn vinh vẻ đẹp người lính, luôn sẵn sàng sẻ chia mọi thứ với đồng đội của mình trong hoàn cảnh khó khăn

– “Đắp chung chăn” là hoạt động chia sẻ, gắn kết, khiến những con người từ “xa lạ” trở nên sát gần bên nhau hơn. Từ việc truyền cho nhau hơi ấm họ đã biến mối quan hệ từ người lại trở thành “tri kỉ”, thành tình đồng chí.

Cách tác giả sử dụng từ “đôi” thay vì từ “hai” ở câu thơ trên có ý nghĩa:

– Nếu từ “hai” chỉ hai cá thể riêng biệt thì từ “đôi” thể hiện sự gắn kết không thể tách rời, luôn song hành cùng nhau trên mọi mặt trận

– Từ “đôi người xa lạ” họ đã trở thành “đôi tri kỉ”. Cũng là từ “đôi” nhưng biểu đạt hai trạng thái khác nhau của mối quan hệ. Hai người lính từ không quen biết, sau khi cùng nhau vượt qua khó khăn nơi chiến trường đã trở thành đôi bạn tâm tình thân thiết, hiểu bạn như hiểu mình.

– Chỉ với một chữ “chung” duy nhất trong bài thơ nhưng Chính Hữu đã bao hàm toàn bộ những thứ đã tạo nên tình cảm keo sơn giữa những người linh. Đó là chung cảnh ngộ, chung giai cấp, chung ý chí và chung khát vọng giải phóng dân tộc.

Kết thúc đoạn thơ, tác giả đã sử dụng một câu thơ có vị trí rất đặc biệt, được cấu tạo bởi 2 từ “Đồng chí!”:

– “Đồng chí” vang lên như một lời khẳng định, một lời định nghĩa về một thứ tình cảm mới mà tác giả đã phát hiện ra sau những gì đã trải qua cùng những người đồng đội của mình

– “Đồng chí” còn thể hiện cảm xúc dồn nén bấy lâu, được thốt ra như khi cảm xúc đạt đến cao trào, trở thành tiếng gọi của tình cảm mới mang tên “tình đồng chí”

– Cách sử dụng vỏn vẹn 2 từ “đồng chí” giúp gợi sự thiêng liêng, sâu lắng của tình cảm khăng khít này

– Dòng thơ cuối đặc biệt ấy có vai trò như một bản lề gắn kết. Vừa có tác dụng nâng cao ý thơ đoạn trước và vừa mở ra ý thơ đoạn sau. 

– Dấu chấm than đi kèm hai tiếng “Đồng chí” ấy cũng mang ý nghĩa rất riêng. Nó thể hiện một tiếng gọi chất chứa bao trìu mến, yêu thương mà tác giả dành cho những người đồng đội của mình.

=> Sáu câu thơ đầu của bài thơ đã đi sâu khám phá, lí giải cơ sở và sự hình thành của tình đồng chí. Đồng thời, tác giả đã cho thấy những điểm chung, những trải nghiệm khó khăn từng trải qua khiến những người nông dân xa lạ trở thành những người đồng chí, đồng đội sống chết có nhau.

2. Phân tích 10 câu thơ giữa bài thơ Đồng Chí: Những biểu hiện cao đẹp của tình đồng chí, đồng đội

a. Tình đồng chí biểu hiện qua sự thấu hiểu tâm tư của nhau

“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

Gian nhà không mặc kệ gió lung lay

Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.”

Họ thấu hiểu cảnh ngộ, mối bận tâm của nhau nơi chốn quê nhà:

– Xuất thân trong vùng địa giới khắc nghiệt, cùng với đó là hoàn cảnh gia đình khó khăn. Nay các anh ra trận, căn nhà vốn neo người, thiếu sức lao động trở nên bộn bề bởi công việc đồng áng, phải nhờ đến “bạn thân” giúp đỡ

Cuộc sống gia đình các thiếu thốn chồng chất khó khăn, được miêu tả rõ nét qua hình ảnh “gian nhà không”:

– Thể hiện cái nghèo về mặt vật chất trong cuộc sống gia đình

– Diễn tả hình dáng căn nhà trống vắng khi thiếu các anh, những người trụ cột trong gia đình, tạo nguồn thu nhập duy nhất của gia đình

Họ thấu hiểu lí tưởng cách mạng và cùng mang trong mình quyết tâm lên đường giải phóng dân tộc:

– “Ruộng nương” và “căn nhà” đều là những tài sản quý giá, gần gũi, gắn bó với người nông dân. Ấy vậy mà họ sẵn sàng bỏ lại nơi hậu phương để lên đường ra trận. Điều này cho thấy, dù xuất thân nghèo khó nhưng khi đất nước bị xâm lược, ngay cả người nông dân cũng sẵn sàng hy sinh hạnh phúc của mình vì lợi ích chung của toàn dân tộc.

Sử dụng từ ngữ rất giản dị, mộc mạc, nhưng giàu sức gợi:

– Từ “mặc kệ” vốn để chỉ thái độ thờ ơ đối với 1 sự vật hay sự việc. Tuy nhiên, từ “mặc kệ” trong câu thơ “gian nhà không mặc kệ gió lung lay” đã thể hiện thái độ dứt khoát, quyết tâm của người nông dân nghèo trước quyết định nhập ngũ. Họ mặc kệ những gì điều quý giá, mặc kệ khó khăn phải đối diện khi nhập ngũ, quyết tâm ra đi vì nghĩa lớn.

– Từ “mặc kệ” cũng thể hiện thái độ của những người lính, luôn sẵn sàng hy sinh thầm lặng vì độc lập tự do của đất nước, không vì danh lợi hay mong cầu điều gì to lớn cho bản thân

Họ thấu hiểu nỗi nhớ quê nhà thường trực trong tâm hồn người lính:

– Họ lên đường nhập ngũ khi mang trong mình một trời thương nhớ: nhớ nhà, nhớ quê và trên hết là nỗi nhớ người thân da diết. Nỗi nhớ nhiều đến nỗi, họ có thể hình dung thấy gian nhà không đang lung lay trong cơn gió nơi quê nhà xa xôi. 

– Mặc dù vậy, trên chiến trường khốc liệt, những người lính không thể để cảm xúc chi phối ý chí chiến đấu. Chính vì vậy, để tiếp tục mục tiêu giành lại độc lập dân tộc, họ bắt buộc phải dùng lý trí để chế ngự tình cảm. Tuy nhiên càng chế ngự thì nỗi nhớ nhung càng trở nên da diết.

Hình ảnh “giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” vừa là hình ảnh ẩn dụ, vừa là phép nhân hóa diễn tả một cách tự nhiên và tinh tế tâm hồn người lính:

– Nghĩa ẩn dụ: hình ảnh “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” diễn tả tấm lòng của người lính, ra đi trong nỗi nhớ quê hương. Từ đó tạo cho “giếng nước gốc đa” một tâm hồn để nhớ về. 

=> 3 câu thơ đã gợi lên hình tượng người lính tham gia kháng chiến chống Pháp, tràn đầy khí thế và ý chí kiên cường, quyết tâm ra đi để bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc. Mặt khác, sâu xa trong lòng, họ vẫn da diết nhớ về quê hương. 

b. Tình đồng chí biểu hiện qua cuộc đời quân ngũ, từng đồng cam cộng khổ, kề vai sát cánh bên nhau.

Vì vậy, 7 dòng thơ tiếp, Chính Hữu đã dành để nói về những trải nghiệm gian khổ mà các anh bộ đội đã phải trải qua trong thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp:

“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi

Áo anh rách vai 

Quần tôi có vài mảnh vá 

Miệng cười buốt giả 

Chân không giày”

– Là một người lính từng trực tiếp tham gia chiến dịch Việt Bắc thu đông năm 1947, Chính Hữu có thể thấu hiểu những thiếu thốn và gian khổ của đời lính hơn bất kỳ ai khác. 

Tác giả đã vẽ lên bức tranh hiện thực sống động về người lính với sự đồng cảm sâu sắc thông qua bút pháp miêu tả chân thực kết hợp với hình ảnh thơ chọn lọc. Đầu tiên là những cơn sốt rét rừng:

– Sử dụng bút pháp tả thực, tác giả đã tái hiện rõ sự khắc nghiệt của những cơn sốt rét rừng đang tàn phá cơ thể những người lính: “từng cơn ớn lạnh”, “sốt run người”, “trán ướt mồ hôi”

– Trong những cơn sốt rét “ớn lạnh” ấy, sự lo lắng, quan tâm giữa, tình đồng chí đã trở thành điểm tựa tinh thần vững chắc, giúp họ vượt qua những gian khổ, khó khăn

Cuộc đời thiếu thốn và đầy gian khổ của người lính đầy thiếu thốn được khắc họa thông qua:

– Thủ pháp liệt kê: “áo rách vai”, “quần vài mảnh vá, “chân không giày” đã lột tả những chi tiết rất thật, chắt lọc từ thực tế cuộc sống người lính để thể hiện những nỗi vất vả mà họ phải trải qua trên chiến trường

– Những khó khăn gian khổ như được nhân đôi khi tác giả đặt sự thiếu thốn bên cạnh sự khắc nghiệt của thiên nhiên núi rừng, sự buốt giá của những đêm “rừng hoang sương muối”.

– Trái ngược với hoàn cảnh khó khăn, những người lính vẫn giữ cho mình một tinh thần lạc quan về cuộc cách mạng. Điều này được thấy rõ nhất qua hình ảnh “miệng cười buốt giá”, coi nhẹ thử thách và luôn sẵn sàng vượt lên khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

– Sử dụng những hình ảnh sóng đôi, đối xứng nhau trong câu thơ, tác giả đã diễn tả được sự gắn kết, đồng cảm giữa những người lính trong tình đồng chí dạt dào và thiêng liêng

=> Qua 7 câu thơ, với cương vị là một người lính, tác giả đã nói lên một cách cụ thể và chân thực cảnh ngộ thiếu thốn của người lính, đồng thời thấy được tấm lòng yêu thương giữa họ. Tình thương đó không phô trương mà được thể hiện lặng lẽ qua những hành động ân cần, sự giúp đỡ lẫn nhau trong những hoàn cảnh khó khăn

c. Tình đồng chí biểu hiện qua việc yêu thương gắn bó, sẵn sàng sẻ chia

Những cảm xúc thiêng liêng được tác giả dồn nén trong hình ảnh thơ đầy cảm động, ý nghĩa:

“Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”

– Những gian lao, mệt nhọc trong cuộc sống của người lính những năm kháng chiến dường như được an ủi bởi hơi ấm và niềm vui của tình đồng đội “thương nhau tay nắm lấy bàn tay”

– Những cái bắt tay tuy giản đơn nhưng chất chứa biết bao yêu thương trìu mến. Qua câu thơ, tác giả đã dùng sự thiếu thốn nhằm tô đậm sự giàu sang về tinh thần mà những người lính có được khi nhập ngũ

– Những cái bắt tay thay cho lời động viên chân thành, giúp những người lính cùng nhau vượt qua những khó khăn, thiếu thốn, tiếp tục mỉm cười, tiếp tục cùng nhau bước trên con đường cứu nước, giải phóng dân tộc

– Những cái bắt tay còn biểu trưng cho sự cảm thông, là phương tiện để những người lính truyền cho nhau hơi ấm, truyền cho nhau sức mạnh tinh thần để vượt lên số phận

– Những cái nắm tay còn là lời hứa, sự đoàn kết để cùng nhau chung sức chiến thắng quân thù

=> Có lẽ không ngôn từ nào có thể diễn tả được tình đồng chí mà chỉ có những hành động mới có thể làm được điều đó. Chính những hành động tình cảm, sự đoàn kết gắn bó đã giúp sưởi ấm tâm hồn người lính qua 75 ngày đêm chiến đấu, gián tiếp tạo nên chiến thắng của chiến dịch Việt Bắc năm 1947.

3. Phân tích 3 câu thơ cuối bài thơ Đồng Chí: Hình ảnh biểu tượng cho thấy sức mạnh và vẻ đẹp của tình đồng chí, đồng đội

3 câu thơ cuối được xây dựng trên nền thời gian và không gian đặc biệt:

“Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo.”

Nổi bật trên bức tranh khung cảnh rừng đêm hoang vắng là hình ảnh người lính “đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”:

– Hình ảnh “đứng cạnh bên nhau” thể hiện tình đoàn kết, kề vai sát cánh bên nhau trong mọi hoàn cảnh

– Hình ảnh “chờ giặc tới” cho thấy người lính luôn trong tư thế chủ động, hiên ngang, sẵn sàng chiến đấu, mặc cho sự khắc nghiệt của thiên nhiên, thời tiết

Khép lại bài thơ là tác giả sử dụng một hình ảnh độc đáo “đầu súng trăng treo” vừa mang tính hiện thực, vừa đạm tính lãng mạn: 

– Tính hiện thực: gợi cho tác giả nhớ về những đêm hành quân, phục kích chờ giặc. Lúc ấy, nhìn từ xa, vầng trăng như hạ thấp ngang đầu súng, dẫn đến phát hiện thú vị: trăng lơ lửng như treo trước mũi súng.

– Chất lãng mạn: giữa không gian khắc nghiệt và nguy hiểm ấy, tâm hồn người lính lại có thể cảm nhận được ánh trăng, “treo” một vầng trăng lung linh trước súng

– Động từ “treo” được sử dụng đã là tăng thêm tính thơ mộng, giúp nối liền khoảng cách giữa mặt đất với bầu trời, hay chính là sự hòa hợp giữa tâm hồn người lính và tâm hồn của một nhà thơ

Ý nghĩa đằng sau hình ảnh “đầu súng trăng treo”:

– Súng là một trong số những loại vũ khí biểu tượng cho cuộc chiến đấu, hiện thực khốc liệt. Trong khi đó, trăng biểu tượng cho non nước, vẻ đẹp thanh bình và lãng mạn

– Khi súng và trăng được đặt trên một bình diện đã gợi cho người đọc nhiều liên tưởng phong phú về sự đối lập như: chiến tranh và hòa bình; hiện thực và lãng mạn; chất lính và tâm hồn thi sĩ

– Hình ảnh thể hiện vẻ đẹp của tình đồng chí, giúp thanh lọc tâm hồn người chiến sĩ trong những lúc cam go khốc liệt

– Hình ảnh thơ tô đậm vẻ đẹp tâm hồn người lính: dù trong chiến tranh ác liệt, họ vẫn có cho mình sự lạc quan, niềm yêu đời và hướng về một tương lai tươi sáng.

Xem thêm: Luyện Tập Chung1 Một Sợi Dây Thép Được Uốn Như Hình Bên Tính Độ Dài Của Sợi Dây

=> Đây là một bức tranh đẹp về tình đồng chí, đồng đội của người lính, là hình ảnh biểu tượng cho thơ ca kháng chiến – một nền thơ ca hài hòa giữa chất liệu hiện thực và cảm hứng lãng mạn.

IV. Tổng kết chung phân tích bài thơ Đồng chí

1. Về nội dung bài thơ Đồng chí

Qua bài thơ “Đồng chí” Chính Hữu đã khám phá, ngợi ca một tình cảm đẹp giữa những người lính cách mạng, đó là tình đồng chí. Trong đó, những người lính chính là những anh vệ quốc đoàn, những chiến sĩ Ðiện Biên… là những người nông dân vừa rời cuốc cày đã bước vào chiến trận. Mặt khác, tác phẩm còn tô đậm hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ thời kì đầu kháng chiến chống Pháp, với nét đời thường, đời sống tình cảm mộc mạc, chân thành với đồng đội và quê hương. 

2. Về nghệ thuật trong bài thơ Đồng chí

– Sử dụng lối miêu tả chân thực, tự nhiên nhưng rất sinh động và giàu sức gợi

– Hệ thống từ ngữ, hình ảnh thơ giản dị mà giàu ý nghĩa biểu tượng sâu sắc

– Giọng điệu thơ tự nhiên, tình cảm, thể hiện cảm xúc dồn nén từ đáy lòng

Trên đây là toàn bộ nội dung Phân tích bài thơ Đồng chí của tác giả Chính Hữu. Mong rằng với phần phân tích trên, hoanganhmotel.com đã giúp các bạn có thêm hiểu biết về hình ảnh người lính cũng như tình cảm mà họ dành cho nhau trong những năm tháng khó khăn trên chiến trường. Chúc các bạn có một kỳ ôn tập hiệu quả!